Kính gửi Quý Khách hàng,
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, cải cách thủ tục cấp phép đầu tư đã trở thành ưu tiên của nhiều quốc gia. Các quy định mới cho thấy quyết tâm của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường đầu tư hiện đại, minh bạch và thuận lợi hơn cho nhà đầu tư. Những thay đổi như cho phép thành lập doanh nghiệp trước khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, điều chỉnh thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư và áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt là minh chứng rõ ràng cho xu hướng này.
Ở góc độ chính sách, cải cách không chỉ giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ mà còn thể hiện sự đổi mới trong quản trị nhà nước. Điều này góp phần giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong việc thu hút nguồn vốn chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ tổng hợp và phân tích những nội dung cải cách trọng tâm của Nghị định 96, bao gồm các thay đổi mang tính đột phá về cơ chế ưu đãi đầu tư và tiêu chí xác định địa bàn ưu đãi. Chúng tôi làm rõ các đối tượng và phạm vi ưu đãi đầu tư, cũng như quy trình thực hiện thủ tục đầu tư, đặc biệt nhằm tối ưu hóa thời gian triển khai dự án. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phân tích các quy định về điều chỉnh chủ trương đầu tư và những cải cách trong thủ tục cấp phép đầu tư. Những cập nhật này nhằm cung cấp cho doanh nghiệp một khung tham chiếu đầy đủ về hành lang pháp lý mới, từ đó chủ động xây dựng chiến lược đầu tư hiệu quả và quản trị tốt các rủi ro tuân thủ trong suốt vòng đời dự án.
1. Ưu đãi đầu tư
1.1. Mở rộng đối tượng và phạm vi ưu đãi đầu tư
Nghị định 96 thiết lập danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư với nhiều điều chỉnh đáng kể.
Đối với ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư, lĩnh vực công nghệ được mở rộng, bao gồm công nghệ cao, công nghệ chiến lược, công nghệ thông tin, công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp môi trường, nâng tổng số lên 16 ngành, nghề. Ngoài ra, lần đầu tiên bổ sung nhóm dự án thuộc danh mục công trình quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào diện đặc biệt ưu đãi.
Ở nhóm ngành, nghề ưu đãi đầu tư, nhiều lĩnh vực được bổ sung mới. Trong đó, lĩnh vực khoa học công nghệ tăng lên 23 ngành, nghề, đáng chú ý là việc bổ sung sản xuất sản phẩm thuộc danh mục công nghệ lưỡng dụng. Lĩnh vực nông nghiệp cũng mở rộng với 13 ngành, nghề, bổ sung các hoạt động liên quan đến sản xuất nguyên liệu thuốc, thuốc bảo vệ thực vật và thuốc thú y.
Bên cạnh đó, lĩnh vực bảo vệ môi trường và hạ tầng được bổ sung thêm các hoạt động như xây dựng, nâng cấp chợ đầu mối và sản xuất thiết bị công nghiệp môi trường. Trong khi đó, lĩnh vực văn hóa, xã hội, thể thao và y tế có sự điều chỉnh giảm về số lượng nhưng bổ sung nội dung mới liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực phục vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Sự bổ sung này cho thấy định hướng của Nhà nước trong việc ưu tiên tập trung các dự án vừa đảm bảo mục tiêu kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu về an ninh quốc gia và bảo vệ môi trường bền vững.
1.2. Hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư đặc biệt
Theo quy định tại Điều 21 Nghị định 96, cơ chế ưu đãi đầu tư đặc biệt đã được thiết kế dành riêng cho các dự án có quy mô vốn lớn, công nghệ tiên tiến và khả năng tạo tác động lan tỏa sâu rộng đến kinh tế – xã hội. Ưu đãi này được phân định theo ba nhóm đối tượng với các điều kiện định lượng bao gồm:
- Nhóm 1: Trung tâm đổi mới sáng tạo và hạ tầng số. Bao gồm các dự án về trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu lớn (Big Data), hạ tầng 5G và công nghệ chiến lược. Điều kiện: Tổng vốn đầu tư từ 3.000 tỷ đồng trở lên và thực hiện giải ngân tối thiểu 1.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm.
- Nhóm 2: Công nghệ số và linh kiện điện tử trọng điểm. Bao gồm sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, chip bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (AI). Điều kiện: Tổng vốn đầu tư từ 6.000 tỷ đồng trở lên và phải giải ngân toàn bộ số vốn này (đủ 6.000 tỷ đồng) trong vòng 05 năm.
- Nhóm 3: Dự án quy mô đặc biệt lớn thuộc ngành nghề ưu đãi. Áp dụng cho cả dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng thuộc ngành nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Điều kiện: Vốn đầu tư từ 30.000 tỷ đồng trở lên và giải ngân tối thiểu 10.000 tỷ đồng trong vòng 03 năm.
Việc ưu tiên các ngành như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), hạ tầng 5G và trung tâm dữ liệu lớn cho thấy định hướng thúc đẩy kinh tế số và kinh tế xanh, đồng thời bắt kịp xu thế cạnh tranh toàn cầu. Bên cạnh đó, các điều kiện chặt chẽ về vốn đầu tư và tiến độ giải ngân không chỉ giúp sàng lọc dự án thiếu tính khả thi mà còn gắn quyền hưởng ưu đãi với trách nhiệm thực hiện thực tế của nhà đầu tư. Thông qua các dự án quy mô lớn, chính sách này kỳ vọng tạo hiệu ứng lan tỏa về chuỗi cung ứng, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tổng thể, đây không chỉ là sửa đổi kỹ thuật trong pháp luật đầu tư mà là bước cải cách chiến lược nhằm xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, cạnh tranh và hướng tới tăng trưởng bền vững.
2. Địa bàn ưu đãi đầu tư
Một trong những sửa đổi quan trọng của Nghị định 96 là sự chuyển dịch căn bản trong phương thức xác định địa bàn ưu đãi đầu tư. Thay vì duy trì cách tiếp cận “danh mục đóng” bằng việc liệt kê cụ thể từng địa danh (như Phụ lục III Nghị định 31/2021/NĐ-CP Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư), cơ chế mới đã chuyển sang hệ thống xác định dựa trên tiêu chí pháp lý và điều kiện thực tế. Sự thay đổi này không chỉ là một kỹ thuật lập pháp mà còn phản ánh tư duy quản lý linh động, thích ứng hiệu quả với tiến trình sắp xếp đơn vị hành chính và sự biến động về trình độ phát triển giữa các khu vực.
2.1. Tính ổn định và bền vững của hệ thống tiêu chí
Việc thay thế danh mục địa danh bằng hệ thống tiêu chí giúp chính sách ưu đãi trở nên ổn định và có tính dự báo cao hen. Thực tiễn cho thấy khi địa giới hành chính thay đổi hoặc sáp nhập, các danh mục liệt kê cũ thường nhanh chóng lạc hậu.
Căn cứ theo Điều 22 Nghị định 96, các địa bàn được hưởng ưu đãi được xác định như sau:
- Địa bàn đặc biệt khó khăn: Bao gồm các xã khu vực II, khu vực III thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
- Bảo lưu ưu đãi sau sắp xếp: Các đơn vị hành chính cấp xã từng thuộc huyện là địa bàn đặc biệt khó khăn trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính vẫn tiếp tục được duy trì chính sách ưu đãi. Điều này đảm bảo tính liên tục của pháp luật, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư trước các biến động về tổ chức hành chính.
Đáng chú ý, Nghị định 96 đã quy định nguyên tắc áp dụng mức độ khó khăn cao nhất đối với các xã mới thành lập từ việc sáp nhập nhiều xã có điều kiện khác nhau. Ví dụ, nếu một xã mới hình thành từ việc sáp nhập một xã thuộc địa bàn khó khăn và một xã thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn, thì xã mới đó sẽ được hưởng ưu đãi theo diện đặc biệt khó khăn. Cách tiếp cận này thể hiện tinh thần khuyến khích đầu tư vào các vùng yếu thế và tạo sự rõ ràng tuyệt đối trong quá trình thực thi.
2.2. Mở rộng không gian chức năng kinh tế
Ngoài ra tại Khoản 7 Điều 22 Nghị định 96 đã tiêu chuẩn hóa mức ưu đãi dựa trên không gian chức năng kinh tế nhằm tạo động lực cho các cực tăng trưởng mới; cụ thể:
- Khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghiệp số tập trung, khu thương mại tự do và trung tâm tài chính quốc tế được hưởng ưu đãi như địa bàn đặc biệt khó khăn.
- Khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu chế xuất được hưởng ưu đãi như địa bàn khó khăn.
Sự phân lớp này minh chứng cho định hướng của Nhà nước: không chỉ hỗ trợ vùng chậm phát triển mà còn tập trung nguồn lực thúc đẩy các khu vực có khả năng dẫn dắt đổi mới sáng tạo, thu hút vốn lớn và kết nối chuỗi giá trị toàn cầu.
3. Cải cách thủ tục cấp phép đầu tư
3.1. Thành lập doanh nghiệp trước khi có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Theo quy định tại Điều 19.2 Luật Đầu tư 2025, nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư (tức, cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) trước khi thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Điều 8 của Luật Đầu tư 2025 khi thực hiện thủ tục thành lập tổ chức kinh tế. Đây là một điểm mới quan trọng của Luật Đầu tư 2025 so với Luật Đầu tư 2020 và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 72 Nghị định 96.
Khi thực hiện phương thức này, trong hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp phải bao gồm nội dung cam kết đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định pháp luật. Đồng thời, nhà đầu tư có trách nhiệm hoàn thành thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thực hiện dự án phù hợp với ngành nghề kinh doanh của tổ chức kinh tế đã thành lập trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày thành lập tổ chức kinh tế đó. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn về việc biểu mẫu hoặc nội dung nhà đầu tư cần cam kết điều kiện tiếp cận thị trường đồng thời cũng chưa có hướng dẫn chi tiết về hậu quả pháp lý nếu sau thời hạn 12 tháng nhà đầu tư chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Ngoài ra Điều 72.4 Nghị định 96 cũng đặt ra giới hạn quan trọng: doanh nghiệp chỉ được triển khai dự án sau khi đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Điều này thể hiện sự cân bằng giữa tạo thuận lợi đầu tư và bảo đảm kiểm soát của Nhà nước đối với các yếu tố như mục tiêu dự án, điều kiện tiếp cận thị trường, đất đai, môi trường và an ninh kinh tế.
Có thể nhận thấy quy định này còn tương đối mới và việc áp dụng trên thực tế vẫn phụ thuộc vào các văn bản hướng dẫn chi tiết từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi các diễn biến pháp lý liên quan và kịp thời cập nhật khi có quy định mới.
3.2. Điều chỉnh thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư
Một thay đổi khác là việc chuyển giao thẩm quyền từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sang Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với một số loại dự án. Về bản chất, đây là bước cải cách về tổ chức thực thi pháp luật nhằm rút ngắn quy trình ra quyết định.
Tại Điều 33 Nghị định 31/2021/NĐ-CP quy định việc chấp thuận chủ trương đầu tư thuộc về Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên Nghị định 96 đã trao thẩm quyền trực tiếp cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, quá trình xử lý hồ sơ có thể nhanh hơn, giảm đáng kể thời gian chờ đợi và tăng trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu. Từ góc độ quản trị công, sự thay đổi này phù hợp với xu hướng phân cấp phân quyền đi đôi với trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, để bảo đảm minh bạch, cần có cơ chế kiểm soát nội bộ và công khai tiêu chí phê duyệt nhằm tránh rủi ro tùy nghi hành chính. Nghị định 96 thể hiện bước cải cách quan trọng trong chính sách đầu tư với cách tiếp cận linh hoạt, mở rộng ưu đãi và tinh giản thủ tục, qua đó nâng cao tính minh bạch và khả năng dự báo của môi trường pháp lý. Tuy nhiên, các quy định mới cũng đi kèm yêu cầu tuân thủ chặt chẽ hơn, đặc biệt về điều kiện đầu tư và tiến độ thực hiện dự án. Trong bối cảnh một số nội dung vẫn cần hướng dẫn cụ thể, doanh nghiệp nên chủ động cập nhật quy định, rà soát cấu trúc đầu tư và xây dựng chiến lược tuân thủ phù hợp để tận dụng hiệu quả ưu đãi và hạn chế rủi ro pháp lý.
Như thường lệ, chúng tôi hy vọng bài viết này mang lại giá trị thiết thực cho Quý khách và rất mong có cơ hội đồng hành cùng Quý khách trong thời gian tới.
Trân trọng,
English


Bản tin pháp lý số tháng 08/2025 – Những điểm mới trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024
Kính gửi Quý khách hàng, Ngày 29/06/2024, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội số...
Th8
Bản tin pháp lý số tháng 06/2025- NGHỊ ĐỊNH SỐ 69/2024/NĐ-CP QUY ĐỊNH VỀ ĐỊNH DANH VÀ XÁC THỰC ĐIỆN TỬ
Kính gửi Quý Khách hàng, Ngày 25/6/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2024/NĐ-CP (“Nghị định...
Th6
Số 030922 – Thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hình thức thực hiện hợp đồng lao động
Kính gửi Quý khách hàng, Với nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài ngày một tăng, ngày...
Th9
BẢN TIN PHÁP LÝ SỐ THÁNG 07/2022 – LƯƠNG TỐI THIỂU THEO VÙNG TỪ THÁNG 7/2022
Kính gửi Quý khách hàng, Ngày 12/6/2022, Chính phủ ban hành Nghị định 38/2022/NĐ-CP (“NĐ 38”) quy định...
Th7