Kính gửi Quý Khách hàng,
Chăm sóc sức khỏe Người lao động tại nơi làm việc không còn là chính sách phúc lợi mang tính tự nguyện mà đã trở thành nghĩa vụ pháp lý bắt buộc của Người sử dụng lao động. Tùy theo ngành nghề và quy mô sử dụng lao động, doanh nghiệp có thể buộc phải bố trí người làm công tác y tế, bác sĩ tại cơ sở hay thành lập cơ sở y tế (“Bộ phận y tế”) theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp vẫn tiếp cận vấn đề này một cách hình thức: ký hợp đồng cộng tác viên với một bác sĩ quen biết, bố trí nhân viên y tế không có chứng chỉ chuyên môn về y tế lao động, hoặc tổ chức “phòng khám nội bộ” không có giấy phép hoạt động. Những cách làm này tiềm ẩn rủi ro bị xử phạt vi phạm hành chính trong cả lĩnh vực lao động và y tế, đồng thời có thể có nhiều rủi ro cho doanh nghiệp khi xảy ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Bài viết này sẽ hệ thống các quy định pháp lý quan trọng cùng những rủi ro thường gặp, giúp doanh nghiệp chủ động kiểm soát tuân thủ và hạn chế rủi ro pháp lý.
- Khi nào doanh nghiệp bắt buộc phải bố trí bộ phận y tế tại cơ sở?
Theo Điều 73.1 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 (“Luật ATVSLĐ”), căn cứ vào quy mô, tính chất lao động, nguy cơ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, điều kiện lao động mà người sử dụng lao động phải bố trí người làm công tác y tế hoặc thành lập bộ phận y tế chịu trách nhiệm chăm sóc và quản lý sức khỏe của người lao động.
Cụ thể, tại Điều 37 Nghị định số 39/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ ban hành quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ATVSLĐ (“Nghị định 39”) theo 02 nhóm ngành nghề sau đây:
| Quy mô sử dụng lao động | Nhóm ngành nghề có nguy cơ cao[1] | Các ngành nghề, lĩnh vực còn lại |
| > 300 người lao động | Ít nhất 01 người làm công tác y tế có trình độ trung cấp | Ít nhất 01 người làm công tác y tế trình độ trung cấp |
| Từ 300 đến dưới 500 người lao động | Ít nhất 01 bác sĩ/y sĩ và 01 người làm công tác y tế có trình độ trung cấp | |
| Từ 500 đến dưới 1.000 người lao động | Ít nhất 01 bác sĩ và mỗi ca làm việc phải có 01 người làm công tác y tế có trình độ trung cấp | Ít nhất 01 y sỹ và 01 người làm công tác y tế trình độ trung cấp |
| Từ 1.000 người lao động trở lên | Phải thành lập cơ sở y tế theo hình thức tổ chức phù hợp quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh | Ít nhất 01 bác sĩ và 01 người làm công tác y tế khác |
2. Điều kiện pháp lý đối với bác sĩ và bộ phận y tế tại doanh nghiệp
Doanh nghiệp cần đảm bảo những người làm công tác y tế, bộ phận y tế đáp ứng những điều kiện sau:
- Điều kiện về chuyên môn và chứng chỉ
Theo Điều 73.4 Luật ATVSLĐ và khoản 3 Điều 37.3 Nghị định 39, người làm công tác y tế ở cơ sở phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Có trình độ chuyên môn y tế bao gồm: bác sỹ, bác sỹ y tế dự phòng, cử nhân Điều dưỡng, y sỹ, Điều dưỡng trung học, hộ sinh viên.
- Có chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động theo Thông tư số 29/2021/TT-BYT ngày 24 tháng 12 năm 2021 của Bộ Y tế ban hành hướng dẫn hoạt động đào tạo chuyên môn về y tế lao động (thời gian đào tạo lần đầu cấp chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động tối thiểu là 40 giờ, thời gian đào tạo cập nhật ít nhất bằng 50% thời gian đào tạo lần đầu).
- Điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
Theo Điều 19.1 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 (“Luật KBCB”) cá nhân được phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam khi đáp ứng đủ các điều kiện, trong đó bao gồm: (i) Có giấy phép hành nghề đang còn hiệu lực; và (ii) Đã đăng ký hành nghề.
Bên cạnh đó, Điều 36.1 của Luật này cho phép đăng ký hành nghề tại nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng không được trùng thời gian khám bệnh, chữa bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý khi doanh nghiệp có ý định thuê những người làm công tác y tế bán thời gian, bởi lịch trực tại doanh nghiệp trùng ca làm việc tại bệnh viện là vi phạm của chính người đó.
- Giới hạn phạm vi hoạt động chuyên môn
Căn cứ Điều 19.2.(b) Luật KBCB quy định nhân viên y tế làm việc tại y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức mà không thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ được khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi hoạt động và sau khi đã hoàn thành chương trình đào tạo theo nội dung chuyên môn, nghiệp vụ do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định.
Trường hợp muốn tổ chức khám bệnh, chữa bệnh đầy đủ, doanh nghiệp phải thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo một trong các hình thức quy định tại Điều 39 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2023 của Chính phủ[2] và được cấp giấy phép hoạt động.
- Các quyền và nghĩa vụ của các bên
3. Quyền và nghĩa vụ của những người làm công tác y tế, bộ phận y tế tại cơ sở
Người làm công tác y tế, bộ phận y tế có nhiệm vụ tham mưu, giúp người sử dụng lao động và trực tiếp thực hiện việc quản lý sức khỏe của người lao động, với nội dung chủ yếu sau đây[3]:
- Xây dựng phương án, phương tiện sơ cứu, cấp cứu, thuốc thiết yếu và tình huống cấp cứu tai nạn lao động, tổ chức tập huấn công tác sơ cứu, cấp cứu cho người lao động tại cơ sở;
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, giám định y khoa xác định mức suy giảm khả năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, điều dưỡng và phục hồi chức năng lao động, tư vấn các biện pháp phòng, chống bệnh nghề nghiệp; đề xuất, bố trí vị trí công việc phù hợp với sức khỏe người lao động;
- Tổ chức khám bệnh, chữa bệnh thông thường tại cơ sở và sơ cứu, cấp cứu người bị nạn khi xảy ra tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động theo quy định;
- Tuyên truyền, phổ biến thông tin về vệ sinh lao động, phòng, chống bệnh nghề nghiệp, nâng cao sức khỏe tại nơi làm việc; kiểm tra việc chấp hành điều lệ vệ sinh, tổ chức phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn, vệ sinh thực phẩm cho người lao động tại cơ sở; tổ chức thực hiện bồi dưỡng hiện vật theo quy định;
- Lập và quản lý thông tin về công tác vệ sinh, lao động tại nơi làm việc; tổ chức quan trắc môi trường lao động để đánh giá các yếu tố có hại; quản lý hồ sơ sức khỏe người lao động, hồ sơ sức khỏe của người bị bệnh nghề nghiệp (nếu có);
- Phối hợp với bộ phận an toàn, vệ sinh lao động thực hiện các nhiệm vụ có liên quan quy định tại khoản 2 Điều 72 của Luật ATVSLĐ.
Người làm công tác y tế, bộ phận y tế có quyền sau đây[4]:
- Yêu cầu người phụ trách bộ phận sản xuất ra lệnh đình chỉ công việc hoặc có thể quyết định việc tạm đình chỉ công việc trong trường hợp khẩn cấp khi phát hiện các dấu hiệu vi phạm hoặc các nguy cơ gây ảnh hưởng sức khỏe, bệnh tật, ốm đau cho người lao động, đồng thời phải báo cáo người sử dụng lao động về tình trạng này; quản lý trang thiết bị y tế, thuốc phục vụ sơ cứu, cấp cứu tại nơi làm việc; hướng dẫn sơ cứu, cấp cứu cho người lao động tại cơ sở;
- Đình chỉ việc sử dụng các chất không bảo đảm quy định về an toàn, vệ sinh lao động;
- Được người sử dụng lao động bố trí thời gian tham gia các cuộc họp, hội nghị và giao dịch với cơ quan y tế địa phương hoặc y tế bộ, ngành để nâng cao nghiệp vụ và phối hợp công tác.
4. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp
Theo khoản 4 và điểm b khoản 5 Điều 37.4 và Điều 37.5.b Nghị định 39, doanh nghiệp phải thông báo thông tin của người làm công tác y tế cơ sở (theo mẫu tại Phụ lục XXI) hoặc của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà mình ký hợp đồng (theo mẫu tại Phụ lục XXII) với Sở Y tế cấp tỉnh nơi cơ sở có trụ sở chính – thủ tục thường bị bỏ sót khi thay đổi nhân sự.
Tuy nhiên, chỉ trong trường hợp doanh nghiệp không bố trí được người làm công tác y tế hoặc không thành lập được bộ phận y tế thì doanh nghiệp phải ký hợp đồng với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ năng lực theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế để thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe người lao động. Đồng thời, trong trường hợp này, doanh nghiệp cần mặt kịp thời tại cơ sở sản xuất, kinh doanh khi xảy ra các trường hợp khẩn cấp trong thời hạn 30 phút đối với vùng đồng bằng, thị xã, thành phố và 60 phút đối vùng núi, vùng sâu, vùng xa.
5. Ba phương án tổ chức của doanh nghiệp
Phương án 1: Giao kết hợp đồng lao động với bác sĩ. Đây là phương án an toàn nhất về mặt tuân thủ, có thể là hợp đồng toàn thời gian hoặc không trọn thời gian theo Điều 32 Bộ luật Lao động năm 2019 (“BLLĐ”). Cần lưu ý theo Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, người làm việc không trọn thời gian có tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất vẫn thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Phương án 2: Giao kết hợp đồng dịch vụ với cá nhân bác sĩ. Phương án phổ biến nhưng tiềm ẩn rủi ro bị xác định lại quan hệ. Theo khoản 1 Điều 13 BLLĐ, hợp đồng mang tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động, kéo theo nghĩa vụ truy đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Nếu bác sĩ đang là viên chức của đơn vị sự nghiệp công lập, kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, khoản 1 Điều 13 Luật Viên chức năm 2025 cho phép viên chức ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ với tổ chức khác nếu pháp luật về ngành, lĩnh vực không cấm, không xung đột lợi ích, không trái hợp đồng làm việc và không vi phạm đạo đức nghề nghiệp; trường hợp chưa được thỏa thuận trong hợp đồng làm việc thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đứng đầu đơn vị. Doanh nghiệp nên yêu cầu bác sĩ cung cấp văn bản này trước khi ký kết.
Phương án 3: Ký hợp đồng với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ năng lực. Hợp đồng khám sức khỏe định kỳ đơn thuần không thay thế được hợp đồng này; cam kết về nhân sự và thời gian phản ứng cần được đưa thành điều khoản có chế tài cụ thể.
6. Kết luận
Để kiểm soát rủi ro, doanh nghiệp nên: đối chiếu nhóm ngành nghề và quy mô lao động thực tế của từng địa điểm với Điều 37 Nghị định 39; rà soát hồ sơ nhân sự y tế (văn bằng chuyên môn, chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động, giấy phép hành nghề); xác định rõ phạm vi hoạt động của bộ phận y tế trong quy chế nội bộ; chuẩn hóa hình thức hợp đồng với bác sĩ và các cam kết kèm theo; thực hiện thủ tục thông báo với Sở Y tế cấp tỉnh; duy trì đầy đủ hồ sơ khám sức khỏe định kỳ, hồ sơ quản lý sức khỏe và hồ sơ huấn luyện sơ cứu, cấp cứu. Ngoài ra, Nghị định 39 đang được xem xét thay thế, doanh nghiệp nên theo dõi để kịp thời điều chỉnh.
[1] Đây là những cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản, khai khoáng, sản xuất sản phẩm dệt, may, da, giày, sản xuất than cốc, sản xuất hóa chất, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic, tái chế phế liệu, vệ sinh môi trường, sản xuất kim loại, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất vật liệu xây dựng.
[2] Các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm: Bệnh viện (Bệnh viện đa khoa; Bệnh viện y học cổ truyền; Bệnh viện răng hàm mặt; Bệnh viện chuyên khoa); Phòng khám (Phòng khám đa khoa; Phòng khám chuyên khoa; Phòng khám liên chuyên khoa; Phòng khám bác sỹ y khoa; Phòng khám y học cổ truyền; Phòng khám răng hàm mặt; Phòng khám dinh dưỡng; Phòng khám y sỹ đa khoa); Trạm y tế; Nhà hộ sinh; Phòng chẩn trị y học cổ truyền; Cơ sở dịch vụ cận lâm sàng (Cơ sở xét nghiệm; Cơ sở chẩn đoán hình ảnh; Cơ sở xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh); Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình; Cơ sở kỹ thuật phục hình răng; Cơ sở kỹ thuật phục hồi chức năng; Cơ sở tâm lý lâm sàng; Cơ sở dịch vụ điều dưỡng; Cơ sở dịch vụ hộ sinh; Cơ sở chăm sóc giảm nhẹ; Cơ sở cấp cứu ngoại viện; Cơ sở kính thuốc có thực hiện việc đo, kiểm tra tật khúc xạ; Cơ sở lọc máu.
[3] Điều 73.2 Luật An toàn, vệ sinh lao động
[4] Điều 73.3 Luật An toàn, vệ sinh lao động
Như thường lệ, chúng tôi hy vọng Quý khách hàng thấy bài viết này hữu ích và mong muốn được đồng hành, hỗ trợ Quý Khách hàng trong thời gian tới.
Trân trọng,
English
