NGHỊ ĐỊNH 342/2026/NĐ-CP KHUNG PHÁP LÝ MỚI VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HOÁ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI, THAY THẾ NGHỊ ĐỊNH 09/2018/NĐ-CP

1.Chuyển thẩm quyền cấp phép về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Theo Nghị định 09, Sở Công Thương là cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh (“GPKD”) và Giấy phép lập cơ sở bán lẻ (“GPLCSBL”), nhưng trên thực tế phải xin ý kiến Bộ Công Thương trong phần lớn hồ sơ. Cơ chế hai cấp này là một trong những nguyên nhân chính khiến thời gian xử lý hồ sơ kéo dài và cách áp dụng thiếu nhất quán giữa các địa phương trong suốt tám năm thi hành Nghị định 09.

Nghị định 342 (Điều 8) chuyển toàn bộ thẩm quyền cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi GPKD về UBND cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính; thẩm quyền đối với GPLCSBL (cấp, cấp lại, điều chỉnh, gia hạn, thu hồi) thuộc UBND cấp tỉnh nơi đặt cơ sở bán lẻ. Cơ chế xin ý kiến Bộ Công Thương cho hồ sơ thông thường về cơ bản được bãi bỏ, thay vào đó là cơ chế lấy ý kiến Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, nhưng chỉ áp dụng cho các trường hợp có yếu tố an ninh quốc gia được liệt kê cụ thể (xem Mục 4).

Việc phân cấp này có hai mặt cần lưu ý. Một mặt, doanh nghiệp không còn phải chờ ý kiến từ cấp trung ương cho từng hồ sơ, giúp rút ngắn tổng thời gian xử lý. Mặt khác, vì UBND cấp tỉnh có toàn quyền quyết định trong phạm vi thẩm quyền được giao, mức độ chặt chẽ và cách diễn giải quy định hoàn toàn có thể khác nhau giữa các tỉnh, thành phố, đặc biệt đối với những nội dung mang tính định tính như điều kiện về địa điểm (xem Mục 5). Doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng chuỗi bán lẻ trên nhiều tỉnh nên chủ động làm việc trước với cơ quan cấp phép tại từng địa phương để nắm bắt cách áp dụng cụ thể, thay vì mặc định áp dụng kinh nghiệm từ một địa phương cho toàn bộ hệ thống

2. Điều kiện cấp Giấy phép kinh doanh được rút gọn theo hướng phân loại nhà đầu tư

Nghị định 342 giữ nguyên cách phân loại nhà đầu tư thành hai nhóm như Nghị định 09, nhưng thu gọn đáng kể số lượng điều kiện áp dụng cho từng nhóm và loại bỏ một số tiêu chí mang tính hình thức, khó chứng minh trên thực tế.

Nhóm 1: Nhà đầu tư thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ có cam kết mở cửa thị trường theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

  • Đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường theo điều ước quốc tế được lựa chọn áp dụng, và phải duy trì điều kiện này trong suốt quá trình hoạt động – không chỉ tại thời điểm nộp hồ sơ như cách hiểu phổ biến trước đây;
  • Không còn nợ thuế quá hạn, nếu đã thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam từ 01 năm trở lên tính đến ngày nộp hồ sơ.

Đáng chú ý, yêu cầu về “kế hoạch tài chính” thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa, một điều kiện mang tính hình thức, thường được đáp ứng bằng văn bản có tính chất đối phó hơn là phản ánh thực chất năng lực tài chính của nhà đầu tư không còn được quy định tại Nghị định 342. Đây là một điều chỉnh hợp lý, giúp giảm bớt gánh nặng hồ sơ cho nhóm nhà đầu tư đã được hưởng cam kết mở cửa thị trường.

Nhóm 2: Nhà đầu tư không thuộc diện có cam kết nêu trên

  • Không còn nợ thuế quá hạn (nếu đã thành lập từ 01 năm trở lên);
  • Phù hợp với pháp luật chuyên ngành đối với hàng hóa, dịch vụ kinh doanh;
  • Phù hợp với mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước cùng lĩnh vực, được xem xét trong 01 năm gần nhất tính đến ngày nộp hồ sơ thay cho các tiêu chí định lượng về khả năng tạo việc làm và đóng góp ngân sách vốn từng gây khó khăn cho việc chứng minh theo Nghị định 09.

Thời hạn kinh doanh (Điều 10) cũng được thiết kế lại theo hướng gắn với quy chế pháp lý của nhà đầu tư: tương ứng với thời hạn của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với nhà đầu tư thuộc Nhóm 1; và 05 năm đối với nhà đầu tư thuộc Nhóm 2. Về thủ tục, Nghị định 342 cho phép nộp đồng thời hồ sơ xin GPKD và GPLCSBL thứ nhất nếu cùng tỉnh, thành phố với trụ sở chính, giúp rút ngắn đáng kể thời gian chờ đợi tuần tự như trước; đồng thời, doanh nghiệp trong nước nhận vốn đầu tư nước ngoài để trở thành doanh nghiệp FDI được tiếp tục hoạt động bán lẻ tối đa 12 tháng trong lúc hoàn tất thủ tục cấp phép phù hợp.

3. Thu hẹp phạm vi áp dụng kiểm tra nhu cầu kinh tế (Economic Needs Test) đối với cơ sở bán lẻ

Kiểm tra nhu cầu kinh tế (Economic Needs Test, “ENT”) từng là rào cản lớn nhất mà nhà bán lẻ nước ngoài phải vượt qua khi mở cơ sở bán lẻ thứ hai trở đi tại Việt Nam. Theo Nghị định 09, ENT chỉ được miễn khi cơ sở bán lẻ đồng thời đáp ứng ba điều kiện: (i) diện tích dưới 500 m², (ii) nằm trong trung tâm thương mại, và (iii) không phải cửa hàng tiện lợi hay siêu thị mini. Ngoài phạm vi hẹp này, mọi cơ sở bán lẻ tiếp theo đều phải trải qua quy trình đánh giá của Hội đồng ENT, trên thực tế thường kéo dài 30 – 45 ngày hoặc lâu hơn.

Nghị định 342 (Điều 22) bổ sung một trường hợp miễn ENT hoàn toàn mới và có ý nghĩa lớn nhất đối với cộng đồng nhà bán lẻ nước ngoài: nhà đầu tư đến từ quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có cam kết bãi bỏ ENT thì không phải thực hiện thủ tục này khi mở rộng cơ sở bán lẻ (trừ trường hợp không thuộc diện ngoại lệ nêu trên). Sự thay đổi này thực chất là bước nội luật hóa các cam kết mà Việt Nam đã đưa ra từ trước: thời hạn bảo lưu ENT theo CPTPP đã kết thúc từ ngày 14/01/2024, và theo EVFTA/UKVFTA đã kết thúc từ ngày 01/8/2025. Nói cách khác, Nghị định 342 không tạo ra một chính sách hoàn toàn mới, mà chính thức hóa một nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam vốn đã phải thực hiện. Ngược lại, ENT vẫn tiếp tục áp dụng đối với nhà đầu tư từ các quốc gia mà cam kết trong khuôn khổ WTO, RCEP hoặc các FTA song phương (như VKFTA với Hàn Quốc, VJEPA với Nhật Bản) chưa có nội dung bãi bỏ ENT tương đương CPTPP/EVFTA.

Song song đó, Nghị định 342 làm rõ ngưỡng diện tích 5.000 m² để xác định cấp quản lý xem xét ENT (dưới 5.000 m²: cấp xã; từ 5.000 m² trở lên: cấp tỉnh), và thu gọn số nhóm tiêu chí đánh giá của Hội đồng ENT từ năm nhóm xuống còn bốn nhóm. Bảng dưới đây tóm tắt các khác biệt chính:

Tiêu chí Nghị định 09 Nghị định 342
Phạm vi miễn ENT Chỉ miễn khi cơ sở < 500 m², trong trung tâm thương mại, không phải cửa hàng tiện lợi/siêu thị mini Giữ nguyên ngoại lệ trên, đồng thời miễn ENT cho nhà đầu tư thuộc điều ước quốc tế có cam kết bãi bỏ ENT (CPTPP, EVFTA…)
Khu vực thị trường địa lý Không có ngưỡng xác định cấp xem xét Ngưỡng 5.000 m²: dưới ngưỡng xét cấp xã; từ ngưỡng trở lên xét cấp tỉnh
Số nhóm tiêu chí đánh giá 5 nhóm (bao gồm tạo việc làm, đóng góp ngân sách…) 4 nhóm, bổ sung tiêu chí phù hợp với an ninh, trật tự, an toàn xã hội
Thời gian đánh giá của Hội đồng ENT 20–30 ngày làm việc, tổng thời gian thực tế 30–45 ngày 20 ngày làm việc, tổng thời gian ước tính 25–40 ngày
Cơ chế xin ý kiến cấp trên Có thể phải xin ý kiến Bộ Công Thương Chủ yếu do UBND cấp tỉnh quyết định, trừ trường hợp thuộc diện thẩm định an ninh quốc gia

Tuy nhiên, điều kiện về địa điểm thành lập cơ sở bán theo Nghị định 342 đã được nâng chuẩn so với Nghị định 09.

Theo Nghị định 09, điều kiện về địa điểm của cơ sở bán lẻ chỉ đơn giản là “phù hợp với quy hoạch” của khu vực thị trường địa lý liên quan. Nghị định 342 (Điều 21) thay thế bằng yêu cầu địa điểm phải “đáp ứng đầy đủ điều kiện” theo bảy lĩnh vực pháp luật chuyên ngành: đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, phòng cháy chữa cháy, an toàn giao thông và vệ sinh môi trường.

Đây là một bước siết chặt đáng kể về phạm vi thẩm định, nhưng Nghị định 342 không quy định rõ cơ chế, hồ sơ hay tiêu chí cụ thể để chứng minh việc “đáp ứng đầy đủ” các điều kiện thuộc bảy lĩnh vực nói trên. Trong bối cảnh thẩm quyền cấp phép đã được phân cấp về UBND cấp tỉnh, khoảng trống hướng dẫn này tạo ra dư địa diễn giải khác nhau giữa các địa phương, và có nguy cơ trở thành điểm phát sinh yêu cầu bổ sung hồ sơ, kéo dài thời gian xử lý trên thực tế, kể cả đối với nhà đầu tư đã được miễn ENT. Do đó, việc thẩm định pháp lý địa điểm cần được thực hiện trước khi ký hợp đồng thuê hoặc đặt cọc, thay vì coi đây là thủ tục hình thức thực hiện song song với việc xin cấp phép.

4. Bổ sung cơ chế lấy ý kiến Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về an ninh quốc gia (khoản 3 Điều 8)

Đây là nội dung hoàn toàn mới so với Nghị định 09. Theo khoản 3 Điều 8, cơ quan cấp phép phải lấy ý kiến chấp thuận của cả Bộ Công an và Bộ Quốc phòng về vấn đề an ninh quốc gia trước khi cấp GPKD hoặc GPLCSBL trong ba trường hợp:

  • Nhà đầu tư thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ không tham gia điều ước quốc tế có cam kết mở cửa thị trường, hoặc xin cấp phép cho hoạt động, hàng hóa chưa được cam kết mở cửa;
  • Nhà đầu tư nước ngoài chi phối tổ chức kinh tế là chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, hoặc nền tảng thương mại điện tử tích hợp thuộc nhóm “nền tảng số lớn”;
  • Chuỗi bán lẻ đạt một trong các ngưỡng quy mô: 100 cơ sở mỗi cơ sở dưới 500 m²; và/hoặc 50 cơ sở mỗi cơ sở từ 500 m² đến dưới 3.000 m²; và/hoặc 30 cơ sở mỗi cơ sở từ 3.000 m² trở lên.

Song song với cơ chế thẩm định này, Nghị định 342 mở rộng đáng kể cách diễn đạt về hoạt động thương mại điện tử so với khái niệm tương đối hẹp của Nghị định 09 (vốn chỉ nhắc đến “dịch vụ thương mại điện tử” theo mô hình website cho bên thứ ba bán hàng). Nghị định mới sử dụng khái niệm “nền tảng thương mại điện tử” theo nghĩa rộng hơn, bao trùm cả mạng xã hội có hoạt động thương mại điện tử (mô hình social commerce như TikTok Shop, livestream bán hàng trên mạng xã hội), nền tảng thương mại điện tử tích hợp, và nền tảng số lớn theo tiêu chí của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng. Việc quản lý, vận hành các nền tảng này – nếu do nhà đầu tư nước ngoài chi phối – tiếp tục thuộc diện phải xin GPKD, và có thể rơi vào diện phải thẩm định an ninh quốc gia nêu trên.

Về mặt thực tiễn, đây là thay đổi có tác động sâu rộng nhất đối với hai nhóm chủ thể: (i) các nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội có yếu tố sở hữu hoặc chi phối nước ngoài, và (ii) các chuỗi bán lẻ quy mô lớn đang hoặc có kế hoạch mở rộng vượt các ngưỡng nêu trên. Vì Nghị định 342 chưa quy định chi tiết về trình tự, thời hạn cụ thể của quy trình lấy ý kiến liên ngành giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, doanh nghiệp thuộc các nhóm này nên chủ động dự trù thêm thời gian xử lý hồ sơ so với các trường hợp thông thường, và cân nhắc thời điểm mở rộng chuỗi để tránh vượt ngưỡng vào thời điểm không thuận lợi cho kế hoạch kinh doanh.

5. Tăng cường hậu kiểm

  • Chế độ báo cáo: chuyển từ báo cáo một lần mỗi năm (theo Nghị định 09) sang báo cáo định kỳ hai lần mỗi năm (trước ngày 15/01 và 15/7);
  • Quyền tạm ngừng hoạt động: cơ quan cấp phép có thể yêu cầu tạm ngừng hoạt động khi phát hiện doanh nghiệp không còn đáp ứng điều kiện cấp phép – hệ quả trực tiếp của nghĩa vụ “duy trì điều kiện trong suốt quá trình hoạt động” nêu tại Mục 2;
  • Mở rộng căn cứ thu hồi giấy phép: trong đó có trường hợp doanh nghiệp bị xử phạt vi phạm hành chính 03 lần liên tiếp trong 12 tháng đối với các vi phạm liên quan đến hoạt động được cấp phép;
  • Số hóa hồ sơ: cơ quan cấp phép được khai thác dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia, chỉ yêu cầu doanh nghiệp bổ sung tài liệu khi không khai thác được – giúp giảm bớt gánh nặng hồ sơ giấy nhưng cũng đồng nghĩa với việc thông tin của doanh nghiệp được đối chiếu tự động thường xuyên hơn.

Nhìn tổng thể, cơ chế hậu kiểm mới cho thấy triết lý quản lý của Nghị định 342: giảm rào cản gia nhập thị trường (tiền kiểm) để đổi lấy giám sát chặt chẽ hơn trong quá trình hoạt động (hậu kiểm). Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng quy trình tuân thủ nội bộ mang tính liên tục, thay vì chỉ tập trung nguồn lực vào giai đoạn xin cấp phép ban đầu như trước đây.

6. Khuyến nghị dành cho doanh nghiệp FDI

Trước thời điểm Nghị định 342 có hiệu lực (18/10/2026), chúng tôi khuyến nghị doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, bán lẻ và thương mại điện tử cân nhắc các bước sau:

  • Xác định điều ước quốc tế áp dụng cho nhà đầu tư dựa trên quốc tịch và cơ cấu sở hữu, để biết doanh nghiệp thuộc diện được miễn ENT hay thuộc diện có thể phải xin ý kiến an ninh quốc gia;
  • Rà soát kế hoạch mở rộng chuỗi bán lẻ theo các ngưỡng 100/50/30 cơ sở, và dự trù thời gian cho thủ tục lấy ý kiến Bộ Công an, Bộ Quốc phòng nếu có khả năng vượt ngưỡng;
  • Thẩm định pháp lý địa điểm (đất đai, xây dựng, phòng cháy chữa cháy, môi trường…) trước khi ký hợp đồng thuê, vì đây nay là điều kiện tiên quyết để được cấp GPLCSBL;
  • Rà soát và xử lý dứt điểm nợ thuế quá hạn trước khi nộp hồ sơ, đặc biệt đối với doanh nghiệp đã hoạt động tại Việt Nam từ một năm trở lên;
  • Đánh giá khả năng thuộc diện “nền tảng số lớn” đối với doanh nghiệp vận hành sàn thương mại điện tử hoặc mạng xã hội có hoạt động thương mại;
  • Cập nhật quy trình tuân thủ nội bộ cho kỳ báo cáo sáu tháng và kiểm soát rủi ro bị xử phạt hành chính lặp lại – một căn cứ thu hồi giấy phép mới theo Nghị định 342;
  • Đối chiếu quy định chuyển tiếp đối với giấy phép đã cấp hoặc hồ sơ đang giải quyết, để lựa chọn thời điểm nộp hồ sơ phù hợp trước hoặc sau ngày 18/10/2026.

Trong thời gian tới, các văn bản hướng dẫn chi tiết từ Bộ Công Thương, Bộ Công an cũng như thực tiễn áp dụng tại từng địa phương sẽ là yếu tố quyết định để đánh giá đầy đủ tác động của Nghị định 342. ENT Law LLC sẽ tiếp tục cập nhật đến Quý khách hàng các diễn biến mới nhất liên quan đến quá trình triển khai Nghị định này.

This site uses cookies to offer you a better browsing experience. By browsing this website, you agree to our use of cookies.